Lá Số Tử Vi

Kiến thức tử vi

Bài viết

Những bài nhập môn ngắn để đọc được lá số của chính mình.

Nhập môn

Tử vi đẩu số là gì?

4 phút đọc

Tử vi đẩu số là một môn lý số phương Đông. Từ giờ, ngày, tháng và năm sinh theo âm lịch, người ta lập ra một bảng gọi là lá số, rồi dựa vào vị trí các sao trên bảng để bàn về tính cách và các giai đoạn trong đời người. Tên gọi lấy từ sao Tử Vi, ngôi sao đứng đầu hệ thống. Theo truyền thuyết, môn này do Trần Đoàn, một đạo sĩ thời Ngũ Đại sang đầu nhà Tống, hệ thống hóa.

Lá số gồm những gì

Lá số là một hình vuông chia làm 12 ô bao quanh một ô lớn ở giữa. Mỗi ô ứng với một địa chi, từ Tý đến Hợi, và mang tên một cung nói về một mặt của đời sống:

  • Mệnh và Thân: bản thân, tính cách, hướng đi chung.
  • Phụ Mẫu, Huynh Đệ, Phu Thê, Tử Tức: cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, con cái.
  • Tài Bạch, Quan Lộc, Điền Trạch: tiền bạc, công việc, nhà cửa.
  • Phúc Đức, Tật Ách, Thiên Di, Nô Bộc: phúc phần dòng họ, sức khỏe, việc đi xa, bạn bè và người cộng tác.

Ô giữa gọi là thiên bàn, ghi thông tin người xem: ngày sinh âm dương, can chi, bản mệnh theo ngũ hành nạp âm và cục.

Các sao

Trên lá số có 14 chính tinh chia làm hai chòm, chòm Tử Vi và chòm Thiên Phủ, cùng hơn một trăm phụ tinh. Mỗi nhóm sao được an theo một yếu tố riêng: có sao theo can năm sinh, có sao theo chi năm, có sao theo tháng, ngày hoặc giờ. Vì thế hai người sinh cùng ngày nhưng khác giờ vẫn có lá số khác nhau.

Phái Việt

Tử vi ở Việt Nam có một số khác biệt so với sách Trung Hoa, ví dụ cách an Tứ Hóa của vài tuổi, cách đánh giá độ sáng của sao và cách dùng Tuần, Triệt khi luận giải. Sách của các tác giả như Thái Thứ Lang và Thiên Lương được nhiều người Việt dùng làm chuẩn. Trang Lá Số Tử Vi an sao theo hướng này.

Lá số là một khung để suy ngẫm về bản thân, không phải lời phán định. Hãy đọc nó như đọc một bản đồ: biết mình đang ở đâu để tự chọn đường đi.

Muốn xem thử lá số của bạn trông thế nào?

Lập lá số

Cách đọc lá số

12 cung và tam phương tứ chính

5 phút đọc

Người mới thường nhìn vào cả 12 ô cùng lúc và thấy rối. Cách dễ hơn là đi theo một thứ tự cố định.

1. Bắt đầu từ cung Mệnh và cung Thân

Cung Mệnh được tính từ tháng và giờ sinh. Đây là điểm xuất phát của mọi phép xem, nói về bản chất và hướng đi chung của người đó. Cung Thân cũng tính từ tháng và giờ sinh nhưng đếm theo chiều ngược lại, và theo quan niệm phổ biến thì ảnh hưởng rõ hơn ở nửa sau cuộc đời. Cung Thân luôn trùng với một trong sáu cung Mệnh, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch hoặc Phu Thê; trên lá số, cung đó được đánh dấu "Thân".

2. Xem tam phương tứ chính

Một cung không đứng một mình. Khi xem một cung, người ta xem cùng lúc bốn cung:

  • Chính cung đang xem.
  • Hai cung tam hợp, cách chính cung bốn ô về hai phía. Với cung Mệnh, đó là Tài Bạch và Quan Lộc.
  • Cung xung chiếu nằm đối diện. Với cung Mệnh, đó là Thiên Di.

Bốn cung này gộp lại mới cho ra bức tranh đầy đủ. Trên trang lập lá số, bạn bấm vào bất kỳ cung nào thì ba cung còn lại sẽ được tô sáng.

3. Đọc chính tinh và độ sáng

Chính tinh quyết định tính chất chủ đạo của một cung. Mỗi chính tinh có độ sáng thay đổi theo cung nó đóng: Miếu, Vượng, Đắc là sáng, Bình là trung bình, Hãm là tối. Cùng một sao nhưng sáng thì phát huy mặt tốt, tối thì dễ lộ mặt xấu. Trên lá số, độ sáng ghi bằng chữ cái nhỏ cạnh tên sao.

Cung không có chính tinh nào gọi là Vô chính diệu. Khi đó người ta mượn chính tinh của cung xung chiếu để xem, và chú ý nhiều hơn tới các phụ tinh trong cung.

4. Phụ tinh và Tứ Hóa

Phụ tinh làm rõ thêm hoặc làm lệch đi tính chất của chính tinh. Nhóm cát tinh hay gặp gồm Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt và Lộc Tồn. Nhóm sát tinh gồm Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh và Linh Tinh. Tứ Hóa gồm Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và Hóa Kỵ, an theo can năm sinh và bám vào bốn sao cụ thể; ba hóa đầu thường được xem là tốt, Hóa Kỵ thường được xem là trở ngại.

Mở lá số và bấm vào cung Mệnh để thấy tam phương tứ chính.

Mở lá số

Vận hạn

Đại hạn và tiểu hạn tính thế nào?

4 phút đọc

Lá số gốc mô tả cả cuộc đời. Để xem từng giai đoạn, tử vi dùng đại hạn cho từng mười năm và tiểu hạn cho từng năm.

Đại hạn: mỗi cung giữ mười năm

Đại hạn đầu tiên luôn bắt đầu tại cung Mệnh. Tuổi bắt đầu bằng số cục của lá số:

CụcĐại hạn đầu
Thủy nhị cục2–11 tuổi
Mộc tam cục3–12 tuổi
Kim tứ cục4–13 tuổi
Thổ ngũ cục5–14 tuổi
Hỏa lục cục6–15 tuổi

Sau đó cứ mười năm lại sang cung kế tiếp. Chiều đi phụ thuộc vào âm dương của năm sinh và giới tính. Năm có can Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là năm Dương; năm có can Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là năm Âm.

  • Dương Nam và Âm Nữ đi thuận, theo chiều Tý, Sửu, Dần.
  • Âm Nam và Dương Nữ đi nghịch, theo chiều Tý, Hợi, Tuất.

Ví dụ: một người nam sinh năm Canh Ngọ, Thổ ngũ cục, Mệnh tại Mão. Canh là can Dương nên đại hạn đi thuận: 5–14 tuổi ở Mão, 15–24 tuổi ở Thìn, 25–34 tuổi ở Tỵ, và cứ thế tiếp tục.

Tiểu hạn: mỗi năm một cung

Tiểu hạn đổi cung mỗi năm. Cung khởi đầu phụ thuộc vào chi năm sinh:

  • Tuổi Dần, Ngọ, Tuất khởi tại Thìn.
  • Tuổi Thân, Tý, Thìn khởi tại Tuất.
  • Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu khởi tại Mùi.
  • Tuổi Hợi, Mão, Mùi khởi tại Sửu.

Năm đầu đời nằm ở cung khởi, sau đó nam đi thuận, nữ đi nghịch, mỗi năm một cung. Mỗi ô trên lá số ghi sẵn chi của những năm tiểu hạn đi qua ô đó.

Tuổi dùng để tính

Tử vi dùng tuổi âm, hay còn gọi là tuổi mụ: lấy năm đang xem trừ năm sinh âm lịch rồi cộng thêm một. Trên trang lập lá số, bạn nhập "Năm xem hạn"; ô có đại hạn đang chạy và ô tiểu hạn của năm đó sẽ được tô màu tím.

Xem đại hạn và tiểu hạn năm nay của bạn.

Lập lá số